Cập nhật lúc 05/06/2009, 15:46 (GMT+7)
Bình minh trên Cồn Vành (kỳ 1)

          Ít người biết, Thái Bình còn có một nơi như Cồn Vành. Một cồn cát nhỏ bé, dài 6 km, rộng chưa đầy cây số, sống bằng nắng và gió biển Đông, bị ngăn cách với đất liền bởi hai con sông, sông Cau và sông Hồng lấp và thuộc địa giới hành chính của xã Nam Phú, huyện Tiền Hải. Ngụ cư tại đây có 43 phương tiện của khoảng 200 ngư dân đoàn chài Hồng Tiến. Không có nhà, đất nên con thuyền chính là mái nhà và phương tiện sinh nhai của họ suốt mấy đời nay. Đoàn chài từng được gọi bằng cái tên “Làng điểm chỉ” vì hầu hết những người trên đoàn chài này hoặc mù chữ, hoặc tái mù.

 

         Kỳ I: Lênh đênh Cồn Vành

 

         Vẫn còn nguyên những nét hoang sơ, Cồn Vành là điểm dừng chân của các loài chim quý hiếm như cò thìa, bồ nông, mòng biển cùng rừng thông, phi lao xanh ngắt với khu bảo tồn rừng ngập mặn. Nay, cồn cát nhỏ này thuộc khu vực quản lý của Trạm kiểm soát biên phòng Cồn Vành - Đồn biên phòng 72, bộ đội biên phòng Thái Bình. Cồn Vành không có dân cư nhưng lại là bến đỗ của ngư dân các xã Hồng Tiến (huyện Kiến Xương), Nam Phú, Nam Hưng, Nam Hồng, Nam Hà (huyện Tiền Hải). Số ngư dân các xã Nam Phú, Nam Hưng, Nam Hồng, Nam Hà của huyện Tiền Hải đều sống định cư trên đất liền, có nghề nông ổn định. Với họ, chài lưới chỉ là nghề phụ tranh thủ trong những lúc nông nhàn hay khi mùa tôm cá, đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, mặt bằng dân trí tương đối đồng đều, cơ bản họ đều có trình độ dân trí từ lớp 7 trở lên.

Thuyền cũng là nhà của những cư dân đoàn chài Hồng Tiến

 

          Thế nhưng, điều đặc biệt cũng là cái làm nên những băn khoăn đau đáu trên cồn cát hoang sơ này chính là những ngư dân thuộc đoàn chài Hồng Tiến. Ngư dân cũng là những giáo dân mộ đạo này sống trên 43 phương tiện hầu hết còn hoang sơ. Đó là phương tiện sinh sống, cũng đồng thời là nhà của họ. Cách đây 2 năm, toàn bộ đoàn chài Đồng Tiến với 28 phương tiện của 115 ngư dân đều không có nhà và đất trên đất liền. Thừa hưởng nghề chài lưới của ông cha, họ sống nay đây mai đó lênh đênh trên mặt nước, lấy thuyền làm nhà. Từ đất liền để đến được bến sông Cau nơi đoàn thuyền neo đậu không hề dễ dàng. Mặc dù, nay đã có con đường dài gần 7 km do Bộ Tư lệnh Quân khu 3 (Bộ Quốc phòng) đầu tư gần 120 tỷ đồng giúp Cồn Vành gần hơn với đất liền nhưng để đến được bến sông Cau phải mất thêm 4 cây số đi trên bãi cát. Đó là khi thuỷ triều xuống, còn khi thuỷ triều nên, phải mất thêm cả tiếng đi đò tính từ cột mốc ghi “Cồn Vành – 0 km”. Điều kiện đi lại khó khăn cũng là một trong những nguyên nhân khiến những ngư dân này thường chỉ lên bờ vào những dịp lễ nguyện. Vì vậy, đất liền với họ vẫn là một thế giới vô cùng lạ lẫm. Những đứa trẻ khi còn ở trong bụng mẹ đã phải chịu những sóng gió khắc nghiệt của biển khơi, sinh ra trên biển, sân chơi là những bãi cát nơi thuyền neo đậu. Đoàn thuyền và sông nước là hầu như là toàn bộ thế giới sống của chúng. Đứa may mắn thì được gửi lên đất liền vài năm, được học vài con chữ, đợi đến khi có thể giúp được cha mẹ lại quay trở về thuyền, bắt đầu hành trình trở thành một ngư dân thực thụ, rồi cái chữ lại bị cuốn đi cùng sóng biển. Điều đó giải thích vì sao, cách đây một thời gian không xa, đoàn thuyền còn được gọi bằng cái tên “làng điểm chỉ” vì hầu hết người dân nơi đây đều không biết chữ. Chỉ cách trung tâm xã Nam Phú 6,5 cây số nhưng những con người ở đây đến năm sinh tháng đẻ của mình họ cũng không nhớ, cái quen thuộc như bữa cơm hàng ngày với họ là kinh thánh cũng được học qua đường truyền miệng. Không biết chữ khiến cho cuộc sống văn minh hiện đại cách họ không xa lắm trên đất liền cũng trở lên vời vợi, còn cái nghèo đói, lam lũ thì đeo đuổi họ suốt mấy đời chưa dứt. Cuộc sống của họ chỉ là đi biển đánh cá, cầu nguyện, ăn và ngủ, không có khái niệm của ti vi, báo chí và ánh sáng điện cùng với nhiều phương tiện phục vụ cho đời sống tinh thần khác. Nhiều câu chuyện cười ra nước mắt về những người dân chài Đồng Tiến khi rời thuyền lên đất liền. Có người sang tỉnh khác không làm thế nào biết được đâu là chuyến ô tô mình cần để về quê vì không biết chữ nhưng lại ngại ngùng không dám hỏi, đến bến đỗ mới biết là mình đã bị đưa đến một tỉnh khác. Người vào thăm bệnh nhân là người nhà ốm trong bệnh viện, lang thang cả ngày không tìm được phòng của người quen vì đã được nói tên phòng nhưng cũng đâu biết chữ để nhận biết… Có lần đoàn thuyền bắt được một con cá Thủ, bán được tới 1,2 tỷ đồng, nhưng với suy nghĩ của trời thì phải trả trời nên họ ăn uống hết mà chẳng nghĩ đến việc dùng số tiền đó làm vốn sinh lời. Cái nghèo đói thì vẫn luôn đi cùng với cái lạc hậu. Hầu như gia đình nào cũng sinh nhiều con nên mới có chuyện thường tình là diện tích chưa đầy chục mét vuông trên thuyền là nơi sinh hoạt, ăn ở của chục con người từ lớn đến nhỏ. Như gia đình anh Ngọc, chị Tốt, ở độ tuổi chồng 39, vợ 37 nhưng anh chị đã có tới 6 người con, đứa lớn 19, đứa nhỏ lên 6. Không có nhà, có đất, gia đình anh sống ở trên thuyền từ đời cụ kỵ. Bố mẹ anh mới trên 60 tuổi cũng có đến 9 người con. 6 người con trai đều đã lập gia đình và có thuyền riêng, còn 3 cô gái thì có 2 cô lấy chồng là người trong đoàn thuyền, 1 cô may mắn lấy được chồng trên bờ, thoát khỏi kiếp lênh đênh. Những cô gái được sinh ra trong đoàn thuyền vẫn nuôi hy vọng mong manh là tìm được một chàng trai trên đất liền yêu thương rồi cưới về làm vợ. Nói là hy vọng mong manh vì với cách sống của họ, cơ hội để gặp gỡ, giao lưu với các chàng trai đất liền cũng đã hiếm hoi chứ nói gì đến có thời gian để tình yêu ươm mầm, nảy lộc. Hoàn cảnh sống khiến hầu hết những cuộc hôn nhân diễn ra ở đây đều là người trên cùng đoàn thuyền bén duyên với nhau. Và, sau mỗi đám cưới, đôi vợ chồng trẻ ra ở riêng, lại thêm một chiếc thuyền nhỏ góp vào số lượng trong cả đoàn. Chỉ cần nhìn vào con số 28 thuyền vào năm 2007 và 43 thuyền cho đến nay cũng đủ biết tốc độ sinh sôi của đoàn thuyền không phải nhỏ. Nhưng, tạo hoá oái oăm khi trong đoàn thuyền này, số lượng nữ bao giờ cũng lớn hơn nam. Điều đó dẫn đến, nhiều cô gái hiến cả đời thanh xuân cho biển cả, đến khi già nua vẫn còm cõi một mình mà không hề biết đến bất kỳ một người đàn ông nào.

Không ít những phụ nữ hiến trọn đời mình cho biển cả như chị Luyến
Chị Khuyến là một trong gần chục người phụ nữ quá lứa lỡ thì cô đơn trên đoàn thuyền này, sống với niềm hạnh phúc nhỏ nhoi là niềm tin vào Chúa. Chị nói tuổi mình khoảng 50 (chị không nhớ chính xác) nhưng nắng gió của biển cả và cả sự cô đơn khiến người đối diện không thể đoán đúng tuổi của chị. Chị hiện sống cùng cô em gái cũng lỡ làng như mình trên một chiếc thuyền nhỏ. Gia đình chị đã mấy đời sống trên đoàn thuyền này. Thân gái không thể một mình kiếm sống giữa biển khơi nên hai chị em phải làm thuê cho thuyền những người anh em họ hàng để mưu sinh, bữa no bữa đói. Không biết, chị sẽ sống như thế nào khi không còn đủ sức khoẻ để đi biển nữa?!

Trẻ em trong đoàn chài làm quen với sóng gió ngay từ trong bụng mẹ
 

         Anh Giang, trạm trưởng Trạm kiểm soát biên phòng Cồn Vành nhớ lại thời gian năm 2002, khi các anh bắt đầu nhận nhiệm vụ tại đây. Bản thân anh cũng không thể tưởng tượng trong thời điểm đó, ngay tại quê hương Thái Bình của anh lại vẫn có những cuộc sống vất vả, cơ cực và tối tăm đến thế. Họ sinh sống bằng những ngư cụ lạc hậu, sinh hoạt vô cùng chật chội, đi lại khó khăn, không được tiếp xúc với cộng đồng dân cư, sống xa cách với cộng đồng chung, không phương tiện nghe nhìn, thiếu về thông tin, không biết làm nông nghiệp cũng không hề có bất cứ một nghề phụ nào, trẻ em không được đi học, không khai sinh, khai tử. Ở xa sự quản lý, chỉ đạo của chính quyền địa phương nên sự quan tâm, đầu tư của các cấp, các ngành còn hạn chế. Họ như sống trong một thế giới khác, trong bóng tối.

 

          Mới đây, khi tôi đến Cồn Vành thì 50% số hộ ở đây vẫn chưa có đất, có nhà. 50% còn lại may mắn hơn đã có một mái nhà nhỏ trên đất liền nhưng vì không có đất canh tác nên vẫn phải lênh đênh trên biển và thuyền vẫn là mái nhà của họ. Thế nhưng, mơ ước của những ngư dân vẫn phải bươn chải cùng nắng gió biển cả để có cái ăn đắp đổi này không chỉ là một mái nhà thực sự. Họ khát chữ. Hành trình chinh phục con chữ của những ngư dân này cũng như câu chuyện những người lặn lội đến đây gieo chữ nơi biển cả cũng gian nan không kém việc chinh phục biển khơi và cũng đẹp, ly kỳ không kém như vậy.

 

 Nguyễn Nhung

(Còn nữa)

,
,
,