Cập nhật lúc 03/12/2009, 10:41 (GMT+7)
Bộ GD&ĐT trả lời chất vấn của ĐBQH kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII:
Quản lý các trung tâm ngoại ngữ mang nhãn quốc tế

(GD&TĐ)-ĐBQH Trương Thị Ánh, thành phố Hồ Chí Minh: Qua tiếp xúc, cử tri có phản ánh tình trạng các trung tâm ngoại ngữ mang nhãn quốc tế, các trường đại học dân lập, tư thục phát triển khá nhiều, song việc quản lý còn nhiều bất cập trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục. Xin Bộ trưởng cho biết về thực trạng và giải pháp để sớm chấn chỉnh tình trạng trên.

Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học Trường CĐ Sp Sóc Trăng
Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học Trường CĐ Sp Sóc Trăng (ảnh minh họa)

Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời:

1.    Về các Trung tâm ngoại ngữ:

Hiện nay các trung tâm ngoại ngữ tại Việt Nam phần lớn tập trung tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Về loại hình có 2 loại hình là: các trung tâm dạy ngoại ngữ do người nước ngoài đầu tư dưới dạng đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và các trung tâm do người Việt Nam là chủ thể thành lập. Theo thống kê số cơ sở, trung tâm ngoại ngữ có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại TP. Hồ Chí Minh là 52 cơ sở (trong đó có 8 cơ sở trong tên gọi có chữ "Quốc tế"); tại Hà Nội có 30 cơ sở (trong đó có 4 cơ sở trong tên gọi có chữ "Quốc tế").

Việc quản lý các trung tâm ngoại ngữ đã được Chính phủ phân cấp quản lý cho các Sở Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 166/2004/NĐ-CP ngày 18/9/2004 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục. Trên thực tế, các Sở giáo dục và Đào tạo đều có đơn vị chức năng được giao nhiệm vụ theo dõi và quản lý các cơ sở dạy ngoại ngữ. Công tác quản lý các cơ sở, trung tâm dạy ngoại ngữ được các địa phương thực hiện theo các nội dung sau: Đối với giáo viên nếu là người nước ngoài phải có giấy phép lao động do Sở Lao động Thương binh và Xã hội cấp khi có đủ điều kiện hành nghề; đối với giáo viên là người Việt Nam phải đủ trình độ theo quy định. Về chương trình giảng dạy phải đăng ký với Sở Giáo dục và Đào tạo để thẩm định. 

Nhằm tăng cường hơn nữa chất lượng giảng dạy tại các cơ sở, trung tâm ngoại ngữ, Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa qua đã họp về việc kiểm soát giáo viên người nước ngoài với các bộ, ngành liên quan: Cục Việc làm, Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Cục Xuất nhập cảnh; Cục Bảo vệ An ninh nội bộ và Văn hóa, Tư tưởng - Bộ Công an; Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và một số Sở Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở có nhiều giáo viên nước ngoài làm việc. Các bên thống nhất tăng cường kiểm tra chất lượng giáo viên giảng dạy tại các cơ sở, trung tâm ngoại ngữ. Giáo viên nước ngoài phải có đủ năng lực và bằng cấp mới cấp giấy phép lao động tại Việt Nam. Giáo viên người nước ngoài phải có giấy phép lao động mới được cấp thị thực dài hạn lao động tại Việt Nam. Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường công tác kiểm tra đối với lao động người nước ngoài.

Về công tác chuyên môn, chương trình giảng dạy, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến tập huấn công tác hợp tác quốc tế cho các cơ sở và cấp quản lý giáo dục vào tháng 12/2009.

2.    Về các trường đại học dân lập, tư thục:

Ngày 27/7/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020”. Từ năm 1998 đến nay (12 năm) đã có 33 trường đại học được thành lập mới (2 trường công lập và 31 trường ngoài công lập); 54 trường đại học nâng cấp từ trường cao đẳng (51 trường đại học công lập và 3 trường đại học ngoài công lập).

Hệ thống các cơ sở giáo dục đại học được phát triển đúng theo định hướng qui hoạch, phân bố trên phạm vi cả nước. Các trường ngoài công lập phát triển nhanh về số lượng, năm 1997 có 15 trường đại học ngoài công lập, đến tháng 9/2009 có 81 trường (44 trường đại học và 37 trường cao đẳng ngoài công lập), tăng 5,8 lần. Quy mô đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập năm học 2008 - 2009 là 218.189 sinh viên, chiếm tỷ lệ 12,7% so với tổng số sinh viên.

Việc thành lập trường đại học và cao đẳng trong thời gian qua đã bám sát chủ tr¬uơng, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục đại học, phù hợp với yêu cầu quy hoạch của các địa phương, nhu cầu nhân lực của các Bộ, ngành, đã góp phần vào đáp ứng về cơ bản yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, trong công tác thành lập trường, triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng theo Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng còn bộc lộ hạn chế là:

- Một số trường được thành lập mới hoặc nâng cấp lên đại học từ năm 2005 trở lại đây chưa thực hiện đầy đủ các cam kết như trong Đề án khả thi thành lập trường và mở ngành, tuyển sinh; chưa chuẩn bị đồng bộ các điều kiện về: đất đai xây dựng trường; đội ngũ giảng viên cơ hữu và thỉnh giảng; vốn đầu tư và các điều kiện đảm bảo chất lượng khác (chương trình đào tạo, thư viện, giáo trình, trang thiết bị thí nghiệm...).

- Chưa có quy định bắt buộc về kiểm tra thực tế các điều kiện cần thiết khi cho phép mở ngành đào tạo và tuyển sinh (chỉ kiểm tra dựa theo hồ sơ). Chế tài xử lý đối với các trường không thực hiện đúng cam kết về các điều kiện mở ngành và tuyển sinh chưa đủ mạnh. Chưa có quy định các trường phải xây dựng chuẩn năng lực người tốt nghiệp (chuẩn đầu ra) nên chưa có cơ sở đánh giá đúng chất lượng đào tạo. Hệ thống quản lý chất lượng trong giáo dục đại học chậm được hình thành (năm 2004 Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục mới được thành lập).

Để khắc phục những hạn chế nêu trên đối với các trường đại học, cao đẳng dân lập, tư thục, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ triển khai đồng bộ hệ thống các giải pháp đảm bảo và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, cụ thể là:

2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

 a) Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của nhà trường (các quy chế, quy định về đào tạo, tuyển sinh, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, quản lý tài chính, tuyển dụng, biên soạn giáo trình,vv...)

b) Quy định về phối hợp và phân cấp quản lý giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ ngành khác và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đối với các trường đại học, cao đẳng (Nghị định Chính phủ).

c) Kiểm tra thực hiện 3 công khai trong toàn quốc, gắn với chỉ tiêu tuyển sinh năm 2010 và các năm sau. Tất cả các trường phải được kiểm tra 3 công khai 1 lần, trước tháng 7/2010.

d) Đổi mới quy chế đánh giá và cho phép mở ngành tuyển sinh. Kiểm tra tại cơ sở giáo dục trước khi được mở ngành 3 tháng, 3 năm sau đó mỗi năm kiểm tra lại 1 lần.

e) Tổ chức hội nghị đánh giá đào tạo theo tín chỉ, xây dựng phần mềm quản lý đào tạo theo tín chỉ dùng chung cho các trường đại học, cao đẳng, phấn đấu đến năm 2012 tất cả các trường đại học, cao đẳng đều đã triển khai hoặc có kế hoạch triển khai đào tạo theo tín chỉ.

g) Hoàn thiện quy định về Hội đồng trường và quan hệ giữa Hội đồng trường, Ban giám hiệu, Đảng uỷ trường, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội, trước tháng 5/2010.

h) Xây dựng quy định về hoàn thiện việc đánh giá quản lý giáo dục đại học: Sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên, giảng viên tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo trường; các đại học, cao đẳng tham gia đánh giá chỉ đạo, quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ chủ quản và Uỷ ban nhân tỉnh, thành phố nơi trường đóng, triển khai từ 5/2010.

i) Rà soát, cập nhật quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng trong cả nước, triển khai xây dựng các khu đại học tập trung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

k) Xây dựng và triển khai đề án thu hút người Việt Nam ở nước ngoài, các nhà khoa học nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, cao đẳng của Việt Nam.

l) Hình thành nhanh hệ thống các cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục của nhà nước và các tổ chức kiểm định của các cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Phấn đấu đến năm 2012 hình thành ít nhất 3 tổ chức kiểm định của các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước, do Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép hoạt động theo chuẩn mực quốc tế.

2.2. Đối với các trường đại học, cao đẳng (bao gồm cả dân lập, tư thục)

a) Thực hiện nghiêm túc quy định tại Quyết định số 07/2009/QĐ-TTg ngày 15/01/2009 của Thủ tướng chính phủ Ban hành điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học:

- Sau ba năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, nếu Ban quản lý dự án không thực hiện được kế hoạch như đã đề ra trong dự án đầu tư về chuẩn bị đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất, trang thiết bị, huy động vốn đầu tư, đề nghị cấp đất, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở vật chất và không chuẩn bị được hồ sơ như quy định tại Khoản 1 Điều 5 của Quyết định này, thì UBND tỉnh/ thành phố sẽ xem xét việc huỷ bỏ Giấy chứng nhận đầu tư.

- Sau 2 năm kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập trường, nếu trường không chuẩn bị đủ các điều kiện để đi vào hoạt động như mở ngành đào tạo, tuyển sinh thì Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ xem xét trình Thủ tướng Chính phủ thu hồi quyết định thành lập trường.

b) Thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về phát triển của trường: Rà soát và hoàn thiện tất cả các quy định, quy chế của nhà trường, thực hiện 3 công khai, thực hiện tuyển dụng theo hợp đồng, trả lương gắn với hiệu quả đóng góp, kiện toàn các cơ quan quản lý của nhà trường, xong trước tháng 9/2010.

c) Xây dựng và công bố chuẩn đầu ra cho tất cả các ngành đào tạo của mình (Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn cách làm), xong trước tháng 12/2010.

d) Triển khai Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơ chế tài chính giáo dục theo Nghị quyết 35 của Quốc hội, các trường cần xây dựng kế hoạch dài hạn 2010-2014, sử dụng phần thu học phí tăng thêm để đầu tư cho các khâu, các yếu tố đầu vào của quá trình đào tạo, nâng cao năng lực quản lý và chăm lo cho giảng viên để có tác dụng rõ rệt nâng cao chất lượng đào tạo.

e) Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên: Triển khai thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc của giảng viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Thực hiện quy hoạch đào tạo giảng viên trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đến 2020 ở tất cả các trường cao đẳng, đại học, từ năm 2010 mỗi năm cử khoảng 1.000 giảng viên làm tiến sĩ ở trong nước, 1.000 giảng viên làm thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài. Từ năm học 2009-2010, thực hiện sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của 100% giảng viên. Các giảng viên đại học đều có kế hoạch đến năm 2012 mỗi giảng viên sử dụng tốt một ngoại ngữ cho đào tạo và nghiên cứu khoa học.

g) Chuẩn hoá và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo: Thông qua Hội đồng các Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng và Trưởng khoa cùng nhóm ngành để thống nhất các chương trình đào tạo khung của các ngành do các trường đào tạo, phân công viết giáo trình dùng chung cho các trường. Tham khảo các chương trình tương tự của các trường tiên tiến ở nước ngoài.

h) Chuẩn hoá và đảm bảo đủ 100% giáo trình đại học: Các trường rà soát tình hình giáo trình, phối hợp qua Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng và Trưởng khoa cùng nhóm ngành để biên soạn giáo trình dùng chung. Phấn đấu đến năm 2012 tất cả các trường đều có đủ giáo trình cho mỗi ngành đào tạo.

i) Chuẩn hoá đội ngũ lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng toàn quốc: Hoàn thiện và tiếp tục chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng, phấn đấu từ tháng 12/2011 trở đi tất cả Hiệu trưởng, Hiệu phó đương nhiệm đã qua bồi dưỡng.

k) Triển khai mạnh mẽ chương trình xây dựng ký túc xá sinh viên, đảm bảo mục tiêu 60% sinh viên có chỗ ở tại ký túc xá vào năm 2020.

l) Thực hiện thi và xét tuyển vào đại học nghiêm túc, thực hiện tốt chương trình cho vay để học, nhằm thu hút thanh niên có chất lượng và đạo đức tốt vào học ở các trường đại học, cao đẳng.

m) Thông qua Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng và Trưởng khoa cùng nhóm ngành, các trường xây dựng đề án hình thành hệ thống thư viện điện tử chuẩn hoá, hiện đại, liên thông.

Bộ GD&ĐT

,
,
,