Cập nhật lúc 03/12/2009, 11:17 (GMT+7)
Bộ GD&ĐT trả lời chất vấn của ĐBQH kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII:
Thi ĐH, CĐ là mối lo quốc gia nhưng tốt nghiệp là việc của từng khoa?

(GD&TĐ)-Ông Đặng Như Lợi, Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau: Hiện nay vẫn diễn ra tình trạng: thi đại học, cao đẳng (đầu vào của ngành giáo dục và đào tạo), Bộ đã làm cho việc đó trở thành mối lo của quốc gia, cả xã hội chộn rộn, còn tốt nghiệp đại học, cao đẳng chỉ là việc làm của từng khoa, từng thầy, chất lượng ngày một giảm sút, người sử dụng lao động rất buồn về chất lượng của ngành giáo dục và đào tạo. Theo Bộ trưởng có phải ta đang làm ngược không và làm sao để giải quyết tình trạng này? Đào tạo không đảm bảo chất lượng có phải là sự lãng phí lớn và nguy hại cho đất nước không?

hjjkj
Tuyển sinh ĐH, CĐ theo giải pháp 3 chung trong điều kiện thực tiễn của nước ta vừa qua là giải pháp phù hợp nhất, không trở thành mối lo của quốc gia

Bộ GD&ĐT trả lời:

1.1. Về thi tuyển sinh đại học, cao đẳng
1.1.1. Những kết quả đạt được từ cuối năm 2001:

Theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng Đề án cải tiến công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng nhằm góp phần từng bước nâng cao chất lượng tuyển chọn đầu vào và nâng cao chất lượng đào tạo, bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ giữa khâu dạy và học ở cấp trung học phổ thông với công tác thi tuyển sinh đại học, cao đẳng; giảm bớt phiền hà, tốn kém cho dân, giảm bớt số thí sinh đăng ký dự thi và dự thi, nhất là số thí sinh tập trung về Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi Đề án được thông qua tháng 01/2002, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai thực hiện công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hàng năm theo giải pháp 3 chung: Thi chung đợt, dùng chung đề và sử dụng chung kết quả thi để xét tuyển.

Sau 8 năm thực hiện Đề án cải tiến tuyển sinh theo giải pháp “3 chung”, công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng đã đạt được kết quả như sau:

- Việc ra đề thi chung bám sát chương trình và sách giáo khoa trung học phổ thông và bỏ bộ tủ sách, đề thi in sẵn đã làm giảm hẳn tình trạng luyện thi tràn lan và luyện thi cấp tốc, hàng loạt các trung tâm luyện thi phải đóng cửa; tình trạng học tủ, học lệch bước đầu được khắc phục.

- Do sử dụng chung kết quả thi theo đề thi chung để xét tuyển nên số trường đại học, cao đẳng không tổ chức thi tăng từ 35 trường năm 2002 lên 137 trường năm 2009 (gấp gần 4 lần, chiếm 36% tổng số trường đại học, cao đẳng cả nước), giảm tốn kém, tránh được lãng phí cho các trường, do không phải tổ chức thi.

- Nhờ tổ chức các cụm thi ở Vinh, Quy Nhơn, Cần Thơ, nên số thí sinh tập trung về Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh trong các kỳ thi đã giảm đáng kể (hàng năm, số thí sinh tập trung về Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã giảm bình quân 20%).

- Từ năm 2004, quy định điểm sàn xét tuyển là mức điểm tối thiểu để xét tuyển vào đại học, cao đẳng. Quy định này đã đảm bảo mặt bằng chất lượng tối thiểu thống nhất cả nước về chất lượng đầu vào, đồng thời tạo sự chủ động cho các trường trong công tác xét tuyển, đảm bảo cơ cấu vùng miền, cơ cấu xã hội, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu nguồn nhân lực, cũng như các chính sách ưu tiên trong tuyển sinh. Đặc biệt là tạo cơ hội cho các trường tuyển thí sinh có kết quả thi cao nhằm nâng cao chất lượng tuyển chọn thông qua việc xét tuyển nguyện vọng 2, nguyện vọng 3. Trung bình hàng năm có trên 30% thí sinh thuộc diện này được các trường tuyển chọn theo nguyện vọng 2, nguyện vọng 3 so với tổng số thí sinh trúng tuyển.

- Công bằng xã hội được thực hiện tốt hơn. Số con em diện chính sách, miền núi, dân tộc, vùng sâu, vùng xa được thu hút ngày càng đông vào các trường đại học và cao đẳng. Bình quân 5 năm (2004 - 2008), tỷ lệ thí sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng hệ chính quy có hộ khẩu thường trú tại vùng cao miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là 26,29%, số thí sinh là người dân tộc thiểu số đạt tỷ lệ 4,71% , số thí sinh từ khu vực nông thôn và miền núi là 64,5% và số thí sinh nữ là 51,6% so với tổng số thí sinh trúng tuyển.

- Thông qua cuộc vận động “Hai không” của ngành, ý thức tự giác học tập của học sinh được nâng lên, kỷ luật thi ngày càng được siết chặt, các hiện tượng vi phạm quy chế thi được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm túc, được dư luận hoan nghênh và đánh giá tốt. Năm 2002, số thí sinh bị xử lý kỷ luật tại phòng thi là 6.445, đến năm 2006 còn 1.631 thí sinh và đến năm 2009 chỉ có 332 thí sinh bị xử lý kỷ luật tại phòng thi.

1.1.2. Một số hạn chế:
- Trong điều kiện nhu cầu học tập của thanh niên còn rất lớn, năng lực đáp ứng của các trường có hạn, nên áp lực tuyển sinh còn lớn (trung bình 2,5 thí sinh dự thi chỉ có 1 thí sinh được tuyển chọn), vì vậy các hiện tượng tiêu cực tuy đã giảm mạnh nhưng vẫn còn.

- Do hai kỳ thi quốc gia là thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng diễn ra cách nhau một tháng, với cùng một nền kiến thức trung học phổ thông, nên chưa giảm hẳn được tình trạng căng thẳng, tốn kém cho thí sinh, gia đình và xã hội.

- Đề thi tuyển sinh đã bám sát chương trình trung học phổ thông, không có sai sót, có tính phân loại cao, nhưng nhìn chung chưa đánh giá được sát khả năng phân tích, tổng hợp, sáng tạo của thí sinh.

- Các trường chưa hoàn toàn chủ động trong công tác tuyển sinh vì phải tuân thủ những quy định chung của cả hệ thống: ngày thi, đợt thi, khối thi, xét tuyển,…

Như vậy, công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hàng năm theo giải pháp 3 chung trong điều kiện thực tiễn của nước ta vừa qua là giải pháp phù hợp nhất, không trở thành mối lo của quốc gia, một mặt giải quyết được mục tiêu cơ bản của công tác tuyển sinh, sàng lọc, chọn thí sinh có năng lực cao nhất vào học, vì khả năng đào tạo của các trường có hạn. Mặt khác các kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng hàng năm đã được xã hội ghi nhận, đánh giá là một kỳ thi nghiêm túc, trật tự và an toàn, có quy chế thi chặt chẽ, có tổng kết đánh giá công tác thi, tuyển sinh hàng năm, có tác dụng tích cực, góp phần nâng cao chất lượng tuyển chọn đầu vào của các trường và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.         

1.2. Về tốt nghiệp đại học, cao đẳng
Khác với công tác thi tuyển sinh, theo quy định của Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp thuộc thẩm quyền của Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng, nhưng được quy định rất chặt chẽ trong quy chế đào tạo ở tất cả các khâu: Thực tập cuối khóa, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp; chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp và chấm thi tốt nghiệp; điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp. Việc tổ chức thực hiện ở các trường đại học, cao đẳng thông qua các Hội đồng do Hiệu trưởng Quyết định thành lập: Hội đồng chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp; Hội đồng chấm thi tốt nghiệp; Hội đồng xét tốt nghiệp.

Trên thực tế, ngoài số sinh viên phải buộc thôi học hàng năm, do kết quả học tập không đạt yêu cầu theo quy định: có điểm trung bình chung học tập của năm học dưới 3,50 hoặc có điểm trung bình chung tất cả các học phần tính từ đầu khoá học dưới 4,00 sau hai năm học; dưới 4,50 sau 3 năm học và dưới 4,80 sau từ 4 năm học trở lên. Đa số các trường đã tổ chức thi, xét tốt nghiệp tương đối nghiêm túc. Tuy nhiên cũng còn một bộ phận sinh viên thiếu phấn đấu, được sự chấp nhận của một số ít giảng viên, đã có các tiêu cực trong thi, làm luận văn tốt nghiệp.

1.3. Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
1.3.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của nhà trường (các quy chế, quy định về đào tạo, tuyển sinh, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, quản lý tài chính, tuyển dụng, biên soạn giáo trình,...).

- Tiếp tục hoàn thiện Đề án đổi mới thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh vào đại học, cao đẳng theo hướng tổ chức một kỳ thi trung học phổ thông quốc gia, sử dụng kết quả của kỳ thi để vừa xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông, vừa làm một căn cứ quan trọng để xét tuyển vào đại học, cao đẳng. Việc này sẽ tiết kiệm rất lớn cho gia đình thí sinh và ngân sách nhà nước.

- Kiểm tra thực hiện 3 công khai (công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục thực tế, công khai các nguồn lực của cơ sở đào tạo, công khai thu chi tài chính) trong toàn quốc, gắn với chỉ tiêu tuyển sinh năm 2010 và các năm sau.

- Xây dựng quy định về hoàn thiện việc đánh giá quản lý giáo dục đại học: Sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của giảng viên, giảng viên tham gia đánh giá hoạt động của lãnh đạo trường; các đại học, cao đẳng tham gia đánh giá chỉ đạo, quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ chủ quản và Uỷ ban nhân tỉnh, thành phố nơi trường đóng, triển khai từ tháng 5/2010.

- Hình thành nhanh hệ thống các cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục của nhà nước và các tổ chức kiểm định của các cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Phấn đấu đến năm 2012 hình thành ít nhất 3 tổ chức kiểm định của các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép hoạt động theo chuẩn mực quốc tế.

1.3.2. Đối với các trường đại học, cao đẳng

- Thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về phát triển của trường: Rà soát và hoàn thiện tất cả các quy định, quy chế của nhà trường, thực hiện 3 công khai, thực hiện tuyển dụng theo hợp đồng, trả lương gắn với hiệu quả đóng góp, kiện toàn các cơ quan quản lý của nhà trường.

- Ban Chấp hành, cấp ủy Đảng và Đoàn TNCSHCM các trường cần phối hợp tổ chức và đánh giá mức độ sai phạm quy chế thi, tốt nghiệp ở nhà trường (nếu có) làm cho các giảng viên và sinh viên thống nhất nhận thức: Tiêu cực trong thi cử và tốt nghiệp là đi ngược lại lợi ích của sinh viên và giảng viên, của cơ sở giáo dục và của xã hội. Bắt đầu từ năm 2011, phát động cuộc vận động: chấm dứt tiêu cực công khai thi cử; đánh giá kết quả hoạt động của cuộc vận động ”Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”.

- Xây dựng và công bố chuẩn đầu ra cho tất cả các ngành đào tạo của mình. Tất cả các trường có tổ chức chuyên trách đánh giá tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp, hỗ trợ đào tạo theo nhu cầu của xã hội, hỗ trợ sinh viên tìm việc làm.

- Từ năm học 2009-2010, thực hiện sinh viên tham gia đánh giá giảng dạy của 100% giảng viên.

- Thực hiện thi và xét tuyển vào đại học nghiêm túc nhằm thu hút thanh niên có chất lượng và đạo đức tốt vào học ở các trường đại học, cao đẳng.

Bộ GD&ĐT

,
,
,