(GD&TĐ) - Hội nghị toàn quốc các trường sư phạm lần thứ nhất được tổ chức đã 3 năm, và sau đó là Nghị quyết số 08 của Ban cán sự Bộ GD-ĐT được ban hành. Tuy nhiên, 3 năm qua, nhiều vấn đề về đào tạo sư phạm để đáp ứng nhu cầu của ngành cũng như để hội nhập quốc tế trong GD vẫn chưa được thể chế hoá; việc đào tạo GV hầu như vẫn bất cập so với công cuộc đổi mới đang diễn ra tại các cơ sở giáo dục. Hội thảo lần thứ hai sẽ được tổ chức sắp tới hi vọng sẽ giải quyết những tồn đọng đó. Báo GD&TĐ đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển về vấn đề này.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển trả lời phỏng vấn của PV các Báo, đài |
PV: Thưa Thứ trưởng, đánh giá trên đây có đúng với thực tế không và vì sao lại có tình trạng này?
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Vâng, đó là một thực trạng không vui mà chúng ta không thể phủ nhận là nó vẫn tồn tại. Chúng ta vẫn chưa xác định được một cách chính xác và đầy đủ ưu, nhược điểm của mỗi mô hình đào tạo GV để có thể áp dụng các giải pháp phù hợp. Trong đổi mới GD, các trường sư phạm vẫn bị “lỗi nhịp” so với trường phổ thông. Đào tạo sư phạm vẫn hầu như chưa có thực hành, vẫn là đào tạo “chay”, chỉ có lý thuyết và 2 tháng đi thực tập mà trường sư phạm “khoán trắng” cho trường phổ thông theo dõi, đánh giá. Việc bồi dưỡng GV cũng chưa làm tốt, chưa đáp ứng đúng những yêu cầu của GV và đòi hỏi của thực tiễn giảng dạy.
Sau Nghị quyết 8 của Ban cán sự Bộ GD-ĐT, mặc dù Bộ đã có những khởi động cho chương trình phát triển đội ngũ giáo viên như thành lập Cục nhà giáo và CBQL cơ sở GD, xây dựng Chuẩn nghề nghiệp GV, Chuẩn hiệu trưởng, ban hành chế độ làm việc của giáo viên… song chúng ta vẫn chưa có một chương trình, kế hoạch để thể chế hoá các quan điểm đổi mới sư phạm nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn là cần phải làm chuyển động hệ thống đào tạo sư phạm hiện nay.
Lý do thì có nhiều, nhưng chủ yếu là do: Việc quản lý của Bộ đối với các trường đại học, cao đẳng khác, cũng như các trường sư phạm còn nhiều bất cập; mặt khác cũng có quá nhiều việc phải dồn sức giải quyết trước.
PV: Có ý kiến cho rằng, việc đào tạo GV tiểu học, THCS và THPT hiện nay không theo một thể thống nhất, trong khi đây là những cấp học khác nhau trong GD phổ thông, lẽ ra nó cần có mối liên thông nhất định. Thứ trưởng đánh giá thế nào về việc này?
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Tôi cho rằng GV ở mỗi bậc học sẽ phải đáp ứng những đòi hỏi riêng của bậc học đó, mầm non tất nhiên phải khác phổ thông, và ngay trong phổ thông thì tiểu học cũng khác THCS và THPT. Tuy nhiên, đã là GV phổ thông thì dù ở bất cứ bậc học nào cũng cần phải nắm được yêu cầu của các bậc học khác nhau trong toàn hệ phổ thông để sản phẩm đầu ra bậc dưới đáp ứng với yêu cầu của bậc học tiếp theo, và ngược lại, cũng để mỗi bậc học trên định hình nhiệm vụ tiếp nối của mình. Có điều chung giữa GV mầm non và tiểu học, đó là với lứa tuổi nhỏ của học sinh thì GV cần nhiều năng lực về phương pháp nghiệp vụ sư phạm hơn. Trong GD phổ thông thì GV tiểu học và THCS đòi hỏi sự tích hợp năng lực nhiều hơn (về giáo dục, về dạy học, về văn hoá…); nội dung dạy học cũng cần có sự tích hợp giữa các bộ môn trong nhau. Đến THPT thì sự phân hoá sẽ sâu hơn về chuyên môn, tuy nhiên vẫn đòi hỏi GV phải có sự tích hợp năng lực. Có người nói rằng: “nhà giáo là học giả giáo dục”, như thế thì đương nhiên năng lực của giáo viên cũng phải là một sự tích hợp kiến thức và kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Với quan điểm này thì chương trình bậc học thấp xây dựng theo hướng tích hợp, còn bậc học cao hơn thì phân hoá sâu dần, sau THCS là phải phân hoá mạnh.
![]() |
| SV ĐHSP Hà Nội ôn tập bài trong thư viện trường |
PV: Dạy học phân hoá cũng đã được tiến hành ở THPT với việc tự chọn ban, tự chọn chủ đề. Vậy, Thứ trưởng có thể giải thích rõ hơn việc phân hoá mạnh sau THCS?
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Việc phân hoá dạy học đã được hỗ trợ bằng tự chọn, tuy nhiên, “phổ” tự chọn cũng chưa rộng do chưa có đủ những điều kiện đáp ứng cho việc dạy học tự chọn này (về GV, CSVC và trang thiết bị…). Phân hoá mạnh là một mặt làm cho phổ tự chọn rộng hơn, thậm chí phải tiến tới tự chọn môn (chứ không chỉ là tự chọn mức độ trong từng môn) hay là tự chọn chủ đề nữa. Từ THCS trở xuống thì có thể là GD phổ thông với kiến thức bao quát tương đối toàn diện, sau THCS thì phải chuyên sâu hơn theo định hướng nghề nghiệp và sở trường năng lực của các em, như vậy có thể sẽ tính đến việc thay đổi số môn học ở THPT hiện nay chẳng hạn. Nếu có thì việc này sẽ phải làm dần, và phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, quan niệm của các cấp quản lý ngành, của giáo viên, học sinh và xã hội.
Vì phân hoá chưa mạnh cho nên phân luồng cũng không rõ ràng và chưa đạt hiệu quả cao, gây lãng phí nguồn lực cho GD-ĐT. Cơ cấu hệ thống GD cần phải có luồng lạch rõ nét hơn thì mới giải quyết được tình trạng này. Tôi nghĩ rằng GD phổ thông sau 2015 phải theo hướng đó.
PV: Quay trở lại với việc đào tạo ngành sư phạm. Liệu có nên áp dụng “hình thức tín chỉ” trong đào tạo giáo viên? Cũng có ý kiến cho rằng “hình thức tín chỉ” sẽ xoá nhoà sự khác nhau giữa các mô hình đào tạo giáo viên hiện nay. Ý kiến của Thứ trưởng về vấn đề này?
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Đó là hai việc khác nhau. Đào tạo theo tín chỉ là xu hướng chung của thế giới, chúng ta cần nghiên cứu và áp dụng một cách phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Tuy nhiên, trong đào tạo sư phạm nói riêng và đào tạo nghề nói chung, việc đào tạo theo tín chỉ cũng có những mặt trái cần được khắc phục trong quá trình quản lý chất lượng. Riêng trong đào tạo sư phạm, cần xác định sự cộng hưởng tác dụng giữa các tín chỉ nghiệp vụ sư phạm với tín chỉ khoa học cơ bản, nếu không sẽ khó xác định được ý thức của SV với nghề nghiệp, tâm thế sẵn sàng của họ cho công việc sau này. Đã có nhiều ý kiến cho rằng, nếu nhằm mục đích định hướng nghề nghiệp cho sinh viên thì việc dạy kiến thức khoa học cơ bản cho sinh viên sư phạm phải khác so với dạy cho sinh viên các ngành khác . Như vậy đủ thấy rằng, cùng là đào tạo theo tín chỉ nhưng các mô hình đào tạo GV khác nhau (song song hay nối tiếp…) sẽ rất có thể cho hiệu quả khác nhau. Mỗi mô hình đều có ưu, nhược điểm, phải vận dụng sao cho phù hợp. Và dù là áp dụng mô hình nào thì cũng phải đáp ứng hiệu quả xã hội mà trước hết là chất lượng sinh viên ra trường, sau đó là sự phát triển của nhà trường, tính kinh tế của quá trình đào tạo… Nói tóm lại, áp dụng đào tạo theo tín chỉ một cách tích cực, lựa chọn mô hình đào tạo và phương thức quản lí phù hợp là các việc đều cần phải tiến hành trong đào tạo sư phạm để đạt đích cuối cùng là nâng cao chất lượng đào tạo GV.
![]() |
| SV Trường ĐHSP HN đang tiếp cận phương pháp dạy học mới |
PV: Nhiều ý kiến cho rằng GV rất cần được đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên. Tuy nhiên, công tác này hiện nay vẫn còn nhiều “lỗ hổng” cần lấp đầy. Xin Thứ trưởng cho biết quan điểm của mình về vấn đề này? Và làm thế nào để chúng ta có thể khắc phục những khiếm khuyết trong bồi dưỡng GV hiện nay?
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Tôi không nhất trí với thuật ngữ “đào tạo lại”. Nói như thế có vẻ như là chúng ta đã phủ nhận việc đào tạo “đi”. Không nên đặt vấn đề “đào tạo lại” mà nên gọi là “bồi dưỡng” hoặc “đào tạo bổ sung”.
Về bồi dưỡng, GV cũng như những người lao động trong bất kỳ ngành nghề nào khác, cần phải bồi dưỡng thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thay đổi và nâng cao tay nghề để có thu nhập cao hơn. Hiện nay có 4 vấn đề chính cần quan tâm:
- Trước hết, nội dung bồi dưỡng phải phù hợp với nhu cầu và nhiệm vụ của mỗi nhà giáo. Muốn vậy chương trình bồi dưỡng sẽ có phần là bắt buộc theo yêu cầu chung (của cả nước, của từng địa phương) và có phần dành cho nhà giáo tự chọn dựa theo nhu cầu phát triển nghề nghiệp. Mỗi giáo viên hay hiệu trưởng có thể tự đánh giá bản thân theo chuẩn nghề nghiệp để thấy điểm mạnh, điểm yếu, qua đó xác định nội dung cần học bồi dưỡng của mình; tập thể sẽ giúp họ trong việc này.
- Về phương pháp bồi dưỡng, cần thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “lấy tự học làm cốt”.
- Về các lực lượng bồi dưỡng: bao gồm người học (giáo viên, hiệu trưởng, cán bộ quản lí chỉ đạo), cơ quan quản lý GD (ban giám hiệu nhà trường, phòng, sở và Bộ) và người làm nhiệm vụ bồi dưỡng (giảng viên sư phạm, cán bộ quản lí chỉ đạo, giáo viên cốt cán). Cả 3 lực lượng này phải có hợp đồng trách nhiệm chặt chẽ với nhau đúng với “vai” của mình và trong mối quan hệ tương tác chung, trong đó GV phải là người tự xác định và đề xuất nhu cầu bồi dưỡng, đồng thời biết tự học và tự đánh giá; người bồi dưỡng không chỉ là nguời viết tài liệu mà còn hướng dẫn GV, tham gia vào quá trình kiểm tra đánh giá; cơ quan quản lí phải hướng dẫn và tập hợp nhu cầu của người học, làm nhiệm vụ liên kết giữa người học và người làm nhiệm vụ bồi dưỡng, quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động.
- Cuối cùng và cũng rất quan trọng là vấn đề động lực của việc bồi dưỡng. Nó được xác lập từ lòng yêu người, yêu nghề của nhà giáo và được củng cố, bồi đắp bởi việc đánh giá, đãi ngộ, sàng lọc, đề bạt… kịp thời, đúng đắn của các cơ quan quản lí giáo dục.
PV: Được biết sắp tới Bộ sẽ tổ chức Hội nghị toàn quốc các trường sư phạm lần thứ 2. Xin Thứ trưởng cho biết mục đích tổ chức Hội nghị này có gì khác so với Hội nghị lần thứ nhất?
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Hội nghị toàn quốc các trường sư phạm lần thứ hai dự kiến tổ chức vào đầu năm 2010. Hội nghị này nhằm trả lời các câu hỏi sau:
- Động lực và điều kiện nào để trường sư phạm đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực của ngành giáo dục?
- Động lực nào để các nhà trường sư phạm đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo để tạo nên một tác động kép: vừa nâng cao chất lượng đào tạo của trường sư phạm, đồng thời hướng dẫn cho các trường phổ thông trong đổi mới phương pháp dạy học?
- Động lực nào để các nhà trường sư phạm tham gia tích cực vào bồi dưỡng GV chứ không phải chỉ lo một nhiệm vụ đào tạo?
- Xây dựng đội ngũ giảng viên các trường sư phạm như thế nào để đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng? (hiện tại tỉ lệ GS, TS trong các trường sư phạm thấp hơn cả tỉ lệ bình quân ở các trường đại học, khi mà tỉ lệ bình quân này cũng đã rất thấp).
- Làm thế nào để tăng cường năng lực tài chính, cơ sở vật chất cho các trường sư pham bằng chính nội lực của họ, khi mà học phí không thu, ngân sách nhà nước đầu tư có hạn.
- Xây dựng cơ chế đánh giá chất lượng đầu ra của các trường sư phạm để có căn cứ tác động tạo động lực cho sự cố gắng liên tục của các nhà trường?
- Tuyển sinh sư phạm phải thay đổi như thế nào để chọn được người có năng lực, có tâm thế sẵn sàng cho nghề, dám chấp nhận cả những thách thức của nghề, đáp ứng nhiều đòi hỏi về chuyên môn nghiệp vụ?
- Cơ cấu chương trình đào tạo sư phạm như thế nào để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD phổ thông, tăng cường kỹ năng mềm cho SV sau tốt nghiệp (ví dụ tăng tỷ lệ về nghiệp vụ sư phạm so với khoa học cơ bản, tăng hiệu quả thực tập sư phạm, tăng thực hành sư phạm ngay trong quá trình học)?
Cuối cùng là làm thế nào để Bộ quản lý tốt hơn các trường sư phạm nói riêng và các trường đại học, cao đẳng nói chung.
PV: Hi vọng các câu hỏi đặt ra trên đây sẽ được giải quyết thấu đáo tại Hội nghị toàn quốc các trường sư phạm lần thứ hai. Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng.
Minh Linh (Thực hiện)
- Học phí, chi phí học tập khác không vượt quá 5% thu nhập gia đình (17/12)
- Dự thảo quy chế quản lý lưu học sinh: Không phải để “trói” mà nhằm hỗ trợ (17/12)
- THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG (17/12)
- Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp (16/12)
- Lễ kỷ niệm 55 năm trường học sinh miền Nam trên đất Bắc (16/12)
- Học phí đại học: Cần một cách tiếp cận khác (15/12)
- Nhà trường VN trong một nền GD tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc (16/12)
- Đồng Sơn không xa.. (15/12)
- THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG (16/12)
- Triển khai chương trình “Kết nối tri thức học đường” (15/12)


