Cập nhật lúc 10/06/2009, 16:58 (GMT+7)
Sân golf và những hiểm hoạ về môi trường

Đằng sau vẻ đẹp thơ mộng này là rất nhiều hiểm họa môi trường
Đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp

Theo Hội Khoa học Đất Việt Nam cho biết, tại 49 tỉnh, thành phố từ 7/2004 đến nay, các địa phương này đã thu hồi gần 750.000 ha đất để thực hiện hơn 29.000 dự án đầu tư; trong đó có hơn 80% là đất nông nghiệp. Đáng chú ý, khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm. Đây là những khu vực đất đai thuộc loại màu mỡ, cho 2 vụ lúa/năm. Trong khi đó, diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam chỉ còn 1.224 m2/người (bình quân trên thế giới là 2.500 m2/người). Thấp nhất là khu vực đồng bằng sông Hồng chỉ có 497 m2. “Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải trên cơ sở gìn giữ đất sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa. Trong tương lai khi dân số Việt Nam tăng lên 100-120 triệu người với điều kiện phát triển công nghiệp đô thị ồ ạt như hiện nay, thế giới đang cảnh báo nguy cơ nhiệt độ trái đất ấm lên làm cho nước biển dâng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều nước, nhất là Việt Nam (hàng triệu ha đất nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị chìm trong nước). An ninh lương thực bị đe dọa dẫn đến những thiệt hại về kinh tế, môi trường và an ninh xã hội”, Ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam cho biết.

Vì thế, để làm tốt công tác thu hồi đất nông nghiệp, các cơ quan chuyên trách cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất đai như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần sửa đổi, bổ sung làm rõ nội dung quy hoạch sử dụng đất phù hợp với yêu cầu quản lý và năng lực tổ chức thực hiện của từng cấp. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu bổ sung biện pháp kinh tế đối với trường hợp sử dụng đất nông nghiệp có chất lượng tốt vào mục đích đất phi nông nghiệp để hạn chế tình trạng này. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đang xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2003. Đáng chú ý, trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung này, về sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao, thời hạn sử dụng đất được ổn định lâu dài (như đối với đất ở hiện nay). Với xu thế đó, sự "tích tụ ruộng đất" sẽ được quy định một cách "mở" và hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Nở rộ dự án sân golf

Trong khi đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp thì các dự án sân golf lại nở rộ. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã quy hoạch khoảng 140 dự án sân golf và dự án kinh doanh bất động sản có sân golf, thuộc địa bàn của 38 tỉnh, thành phố trên cả nước. Trong 76 dự án đã và đang triển khai, thì tổng diện tích chiếm đất là 23.832 ha, trong đó có 9.847 ha đất nông nghiệp, với 1.847 ha đất trồng lúa nước.

Trong số khoảng 140 dự án đã cấp phép, chỉ có 41 dự án (7.095 ha) được ghi trong quy hoạch, còn lại hoàn toàn không có trong quy hoạch hoặc lấn vào diện tích dành chung cho hoạt động thể thao, vui chơi giải trí, du lịch, cảnh quan môi trường. Khi gặp phải những trường hợp như vậy, theo quy định, chính quyền địa phương phải thực hiện những thủ tục điều chỉnh quy hoạch, nhưng trên thực tế, các địa phương không thực hiện, nếu có thì cũng chưa đủ cơ sở để có thể quyết định chuẩn xác. Hơn nữa, đất dùng làm sân golf thực sự chiếm tỷ lệ thấp trong các dự án sân golf. Tại 76 dự án đã và đang triển khai, chỉ có 13 dự án thuần tuý sân golf, còn lại là các dự án kinh doanh bất động sản có sân golf. Nhiều dự án chỉ sử dụng 30% đất làm sân golf, diện tích còn lại được sử dụng để xây dựng các công trình kinh doanh dịch vụ thương mại, biệt thự, khách sạn, du lịch sinh thái, công viên cây xanh, vui chơi giải trí... Nguyên nhân của tình trạng này là do giá thuê đất làm sân golf thấp hơn giá thuê đất làm biệt thự, nhà ở, trung tâm dịch vụ thương mại nhiều lần, nên nhà đầu tư đã lợi dụng kẽ hở này để kinh doanh bất động sản, thu hồi vốn được nhanh hơn.

Ảnh hưởng lớn đến môi trường

Một vấn đề khác cũng được các nhà khoa học quan tâm là ảnh hưởng của sân golf đến môi trường và cảnh quan. Có ý kiến cho rằng, chính các sân golf đã “phủ xanh” môi trường, cảnh quan khu vực. Nhiều sân golf có nhiều loài chim, thú kéo về làm tổ, chứng tỏ sân golf không phải là mối hiểm hoạ về môi trường. Nhưng không phải ngẫu nhiên mà golf bị phản đối ở nhiều nơi trên thế giới. Môn thể thao “quý tộc” này hấp dẫn trước hết ở khung cảnh của những sân golf, nơi mà người chơi cảm thấy được thực sự “hòa mình” vào với thiên nhiên. Nhưng, “thiên nhiên” tại các sân golf lại không phải là tự nhiên, mà đều là nhân tạo. Người ta không ngại ngần chặt phá hàng chục héc ta rừng, đào bới, đắp đất tạo thành hồ ao, đồi gò, nhập các giống cây cỏ ngoại lai để xây dựng các sân golf.

Phân tích cụ thể các số liệu sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu cho sân golf, Thạc sĩ Đỗ Thanh Bái thuộc Trung tâm Bảo vệ môi trường và An toàn hoá chất chỉ ra rằng, các số liệu về dinh dưỡng (phân bón), cường độ sử dụng loại phân bón là đạm chỉ cao hơn một chút so với đất nông nghiệp thông thường. Nếu xét về hoá chất bảo vệ thực vật, kể cả 3 loại là hóa chất trừ cỏ, trừ sâu và trừ nấm, thì cường độ sử dụng cho sân golf cao gấp từ 5,5 đến 6,6 lần so với khu vực nông nghiệp. Điều nguy hiểm là những hoá chất này được tích tụ trong đất, nguồn nước một thời gian dài trước khi ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và sức khoẻ người dân.

Để làm sân golf người ta phải dọn sạch mặt bằng khu vực, có khi phải phá rừng để trồng một loại cỏ đặc biệt ngoại nhập làm nên bộ mặt bóng bẩy cho sân golf. Loài cỏ này cần phải trồng tỉa, chăm bón hết sức cầu kỳ. Thậm chí đến chất đất để trồng cỏ nhiều khi cũng phải chở từ nơi khác đến, càng gây xáo trộn cho môi trường. Chủ đầu tư phải dùng rất nhiều loại thuốc trừ nấm, trừ sâu, trừ cỏ dại khác và rất nhiều loại phân hóa học khác nhau để chăm sóc cho cỏ sân golf.

Các nhà khoa học thuộc Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) tính ra rằng, mỗi ha sân golf sử dụng khối lượng hóa chất gấp ba lần so với cùng một diện tích canh tác nông nghiệp. Với 147 ha sân golf Tam Đảo, mỗi năm, người dân thôn Sơn Long (nơi có sân golf Tam Đảo) phải hứng chịu khoảng 220, 5 tấn hóa chất. Ngay ở trong khu vực Đông Nam á, các khảo sát cũng cho thấy mỗi ha sân golf sử dụng đến 1,5 tấn hóa chất mỗi năm. Các loại hóa chất này tiêu diệt gần như toàn bộ côn trùng trên sân, kéo theo sự suy giảm các loài chim trong khu vực. Hóa chất tan chảy ra hồ ao, sông suối, ngấm xuống đất làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Việc phun hóa chất bằng máy còn gây ô nhiễm không khí của vùng. Các báo cáo cho thấy, do ảnh hưởng của sử dụng hóa chất trong sân golf, gần như không thể thực hiện được chương trình quản lý sâu bệnh tổng hợp (IPM) tại các diện tích canh tác nông nghiệp xung quanh.

Cỏ mặt sân golf cần rất nhiều nước, nhưng lại không chịu được úng, người ta phải làm sao để nước tiêu thóat thật nhanh. Do vậy, hoạt động sân golf sử dụng rất nhiều tài nguyên nước. Một sân golf 18 lỗ cần tới 150.000 m3 nước sạch mỗi tháng, tương đương nhu cầu của 20.000 hộ gia đình. Lượng nước này thường được lấy lên từ sông hồ hoặc nguồn nước ngầm tại chỗ. Chính vì thế, sau một thời gian hoạt động, nguồn nước tại chỗ thường bị ô nhiễm nặng đến mức người ta phải xây dựng đường ống dẫn nước từ nơi khác về để duy trì thảm cỏ xanh.

Nhiều quốc gia lấy ngày 29/4 hàng năm là “World-no-Golf Day” (Ngày Thế giới không có golf). Trên thế giới đã có cả một phong trào toàn cầu chống sân golf (The Global Anti-golf Movement). Họ cho rằng, đằng sau khung cảnh sang trọng và màu xanh đẹp đẽ của thảm cỏ sân golf là những mối đe dọa gây hậu quả sinh thái không tính được bằng tiền. Không thể phủ nhận những lợi ích kinh tế do các sân golf đem lại. Tuy nhiên, phát triển kinh tế phải phù hợp, hài hoà giữa lợi nhuận và lợi ích của người dân, môi trường và an ninh xã hội.

Trần Nhật

Box: Mới đây, Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc có Văn bản số 789/TNMT-MT gửi UBND tỉnh kết quả kiểm tra, giải quyết ô nhiễm nguồn nước tại thôn Sơn Long do Công ty cổ phần Đầu tư Tam Đảo xả ra trong quá trình hoạt động. Việc lấy mẫu và phân tích một số mẫu nước tại khu vực thôn Sơn Long cho thấy: hầu hết các tiêu chuẩn lý - hóa - sinh đều vượt quá hàm lượng cho phép. Hàm lượng COD vượt tiêu chuẩn 1,39 lần, BOD5 vượt tiêu chuẩn 1,06 lần. 

,
,
,